Liên kết tài nguyên

Liên kết website

Thành viên trực tuyến

4 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn nhận thấy trang web này như thế nào?
    Rất hay
    Đẹp
    Bình thường
    Không hay
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý thầy cô và các bạn đến với website Phan Tuấn Hải.

    Lên đầu trang Lên đầu trang

    Đề và đáp án thi HSG lớp 9 môn Ngữ văn tỉnh Đắk Nông 2010-2011

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: st
    Người gửi: Phan Tuấn Hải (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:32' 16-07-2015
    Dung lượng: 33.5 KB
    Số lượt tải: 68
    Số lượt thích: 0 người
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐĂK NÔNG
    KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH LỚP 9 THCS NĂM HỌC 2010-2011
    Khóa thi ngày: 10/3/2011
    Môn thi: NGỮ VĂN
    Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
    
    

    Câu 1. (4.0 điểm)
    Hãy chỉ ra biện pháp tu từ từ vựng và ý nghĩa của chúng trong các câu thơ sau:
    “Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu”
    (Ông đồ, Vũ Đình Liên)

    Để miêu tả cảnh biệt li của Thúy Kiều với gia đình, đại thi hào Nguyễn Du viết:
    “Đau lòng kẻ ở người đi
    Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm”
    (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

    “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”
    (Bếp lửa, Bằng Việt)

    Câu 2. (6.0 điểm)
    NGƯỜI ĂN XIN
    Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
    Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
    - Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
    - Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
    - Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
    Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
    (Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009, tr.22)
    Từ câu chuyện trên, em suy nghĩ gì về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống.

    Câu 3. (10 điểm)
    Phân tích những thành công về nghệ thuật miêu tả, khắc họa nhân vật của thi hào Nguyễn Du qua các đoạn trích Truyện Kiều em đã học và đọc thêm.

    ----------- HẾT -----------
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP TỈNH
    TỈNH ĐĂK NÔNG NĂM HỌC 2010 – 2011
    ------------ Môn thi: NGỮ VĂN
    Khóa ngày: 10/03/2011
    -------------------------------
    HƯỚNG DẪN CHẤM
    Câu 1. (4.0 điểm) Yêu cầu học sinh trả lời được các câu hỏi:
    a. Biện pháp tu từ: nhân hóa (buồn, sầu).
    Ý nghĩa: Nỗi buồn tủi, cô đơn của ông đồ trong buổi suy tàn của nền Hán học. (1.0 điểm)
    b. Biện pháp tu từ: tiểu đối (kẻ ở-người đi), nói quá (lệ rơi thấm đá), ẩn dụ (tơ chia rũ tằm).
    Ý nghĩa: Nỗi đau đớn đến đứt ruột của Thúy Kiều khi phải giã biệt gia đình, đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du dành cho nhân vật. (2.0 điểm)
    c. Biện pháp tu từ: Điệp từ (nhóm).
    Ý nghĩa: Hình ảnh người bà quen thuộc bên bếp lửa không chỉ nhóm những gì thân thuộc hữu hình mà còn nuôi dưỡng những kí ức tuổi thơ của cháu. (1.0 điểm)
    Câu 2. (6.0 điểm) Yêu cầu:
    a) Về kỹ năng: (2.0 điểm)
    Học sinh biết trình bày suy nghĩ về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua một câu chuyện. Biết viết thành bài văn rõ ràng, chặt chẽ. Bài viết mạch lạc, có cảm xúc, tránh lỗi dùng từ, diễn đạt, chính tả…
    b) Về nội dung: (4.0 điểm)
    Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được các ý:
    - Truyện kể về việc cho và nhận của cậu bé và người ăn xin, qua đó ngợi ca cách ứng xử cao đẹp, nhân ái giữa con người với con người.
    - Sự đồng cảm, tình yêu thương chân thành và cách ứng xử lịch sự là món quà quý giá ta tặng cho người khác.
    - Và khi ta trao món quà tinh thần quý giá ấy ta cũng nhận được món quà quý giá tương tự.
    - Truyện gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm về việc cho và nhận trong cuộc sống: cái cho và
     
    Gửi ý kiến