Liên kết tài nguyên

Liên kết website

Thành viên trực tuyến

4 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn nhận thấy trang web này như thế nào?
    Rất hay
    Đẹp
    Bình thường
    Không hay
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý thầy cô và các bạn đến với website Phan Tuấn Hải.

    Lên đầu trang Lên đầu trang

    Đề thi và đáp án HSG lớp 12 môn Ngữ văn (V2) tỉnh Quảng Bình 2013-2014

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: st
    Người gửi: Phan Tuấn Hải (trang riêng)
    Ngày gửi: 13h:38' 07-04-2016
    Dung lượng: 74.5 KB
    Số lượt tải: 52
    Số lượt thích: 0 người
    SỞ GD&ĐT QUẢNG BÌNH ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12
    NĂM HỌC 2012 - 2013
    ĐỀ CHÍNH THỨC (VÒNG 2)
    MÔN: NGỮ VĂN
    Thời gian làm bài: 180 phút (không kể giao đề)



    Câu 1: (4,0 điểm)

    Sau khi được nhận giải thưởng Fields vào ngày 19/8/2010 tại Ấn Độ, giáo sư Ngô Bảo Châu có chia sẻ:
    Không phải ai cũng có khả năng để đạt giải Nobel hay Fields, nhưng ai cũng có thể sống để cuộc sống của mình có ý nghĩa.
    Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

    Câu 2: (6,0 điểm)

    Có ý kiến cho rằng:
    Không một ý định tốt đẹp nào có thể biện minh được cho nhà văn, nếu vì lí do muốn làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên, anh ta đã xuyên tạc nó: anh ta đã viết ra không phải là những cái nhìn thấy mà là những cái muốn thấy.
    (Baklanôp – nhà văn Nga)
    Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên và từ đó liên hệ đến trào lưu văn học hiện thực 1930-1945.

    ------------------------------- Hết ---------------------------------
















    SỞ GD-ĐT QUẢNG BÌNH ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12
    NĂM HỌC 2012 - 2013
    ĐỀ CHÍNH THỨC (VÒNG 2)
    MÔN: NGỮVĂN



    HƯỚNG DẪN CHẤM
    A. HƯỚNG DẪN CHUNG
    - Các mức điểm của đáp án đã được cân nhắc theo hướng có lợi cho học sinh. Giám khảo căn cứ vào nội dung triển khai và mức độ đáp ứng các yêu cầu về kĩ năng để cho từng ý điểm tối đa hoặc thấp hơn.
    - Có những chỗ không buộc học sinh phải trình bày tương tự; giám khảo cần linh động khi vận dụng đáp án.
    - Khi cho điểm toàn bài: không làm tròn số (có thể cho: 0; 0,25; 0,5; 0,75;...).
    B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

    Câu 1

    Nội dung yêu cầu
    Điểm
    
    1. Yêu cầu về kĩ năng
    - Bài văn phải có bố cục và cách trình bày hợp lí.
    - Hệ thống ý (luận điểm) rõ ràng và được triển khai tốt.
    - Diễn đạt suôn sẻ, không lệ thuộc nhiều vào tài liệu có sẵn; mắc ít lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
    
    
    2. Yêu cầu về nội dung
    (Học sinh có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách)
    
    
    a. Phần giải thích vấn đề
    
    
    - Giải Nobel: là giải thưởng quốc tế được trao cho những ai có thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực hóa học, vật lí, y học, văn học, hòa bình và kinh tế.

    0,25
    
    - Giải Fields: là giải thưởng quốc tế được trao cho những tài năng trẻ có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực toán học.
    0,25
    
     - Hàm ý của lời phát biểu:
    Không phải ai cũng có khả năng để đạt đến đỉnh cao của sự thành công và vinh quang. Do đó, đối với mỗi cá nhân con người, điều thiết thực nhất và đáng quan tâm nhất là hãy làm cho cuộc sống bình thường, nhỏ bé của mình trở nên thật ý nghĩa.
    0,5
    
     b. Phần khẳng định vấn đề
    Học sinh khẳng định tính đúng đắn của vấn đề trên cơ sở triển khai các nội dung sau đây:
    
    
    - Thực tế cuộc sống cho thấy không phải sự phấn đấu nào cũng có thể đưa con người đạt đến đỉnh cao của sự thành công. Bởi vì tất cả còn phụ thuộc vào tài năng thiên bẩm và nhiều yếu tố khách quan khác nữa (dẫn chứng, phân tích).
    1,0
    
    - Sống có ý nghĩa là sống có ích cho bản thân, cho gia đình và xã hội. Do đó, không phải chỉ những ai có tài năng xuất chúng, có cống hiến lớn lao mới tìm thấy giá trị của cuộc sống mà ngay cả những người bình thường nhất cũng có thể tìm thấy hạnh phúc, niềm vui, niềm tự hào, tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống của chính mình (dẫn chứng, phân tích).
     1,5
    
    c. Phần mở rộng, nâng cao vấn đề
    (Học sinh có thể mở rộng, nâng cao theo cách khác; giám khảo cần linh động khi chấm.
     
    Gửi ý kiến