Liên kết tài nguyên

Liên kết website

Thành viên trực tuyến

5 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn nhận thấy trang web này như thế nào?
    Rất hay
    Đẹp
    Bình thường
    Không hay
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý thầy cô và các bạn đến với website Phan Tuấn Hải.

    Lên đầu trang Lên đầu trang
    Gốc > THỦ THUẬT MÁY TÍNH >

    8 điều cần làm khi Windows Xp của bạn không thể khởi động

    Cách 1: Sử dụng đĩa khởi động Windows

    Một trong những điều đầu tiên bạn nên nghĩ đến khi khắc phục sự cố là một đĩa khởi động Windows. Đĩa mềm này sẽ rất có ích nếu một trong hai bản ghi khởi động cho phân vùng hoạt động hoặc các tập tin mà hệ điều hành sử dụng để bắt đầu Windows bị lỗi.


    Để tạo một đĩa khởi động Windows, chèn một đĩa mềm vào ổ, sau đó vào 

    My Computer, nhấn chuột phải vào biểu tượng đĩa mềm, và chọn Format. 
    Khi thấy hộp thoại Format, giữ nguyên các thiết lập mặc định và nhấn Start. Khi việc format kết thúc, đóng hộp thoại Format và trở vào My Computer, nhấp đúp vào biểu tượng ổ C, và sao chép ba tập tin sau vào đĩa mềm:

    * Boot.ini
    * NTLDR
    * Ntdetect.com


    Sau khi bạn tạo đĩa khởi động, chèn nó vào ổ đĩa mềm và nhấn [Ctrl] [Alt] [Delete] để khởi động lại máy tính. Khi bạn khởi động từ đĩa khởi động, máy tính sẽ bỏ qua các phân vùng hoạt động và các file khởi động trên đĩa cứng và cố gắng để bắt đầu Windows XP bình thường.


    Cách 2: Sử dụng Last Known Good Configuration


    Bạn cũng có thể thử khởi động hệ thống điều hành với 
    Last Known Good Configuration. Tính năng này sẽ cho phép bạn undo bất kỳ thay đổi mà gây ra các vấn đề trong khóa registry CurrentControlSet, trong đó xác định phần cứng và cài đặt trình điều khiển. Tính năng Last Known Good Configuration sẽ thay thế các nội dung của khóa CurrentControlSet bằng một bản sao được lưu lần cuối 

    Để sử dụng Last Known Good Configuration, đầu tiên khởi động lại máy tính bằng cách nhấn [Ctrl] [Alt] [Delete]. Khi bạn nhìn thấy thông báo lựa chọn hệ điều hành để bắt đầu hoặc nghe tiếng bíp duy nhất, bấm [F8] để hiển thị menu 
    Windows Advanced Options.Chọn Last Known Good Configuration mục từ menu và nhấn [Enter].

    Hãy nhớ rằng bạn chỉ có một bản Last Known Good Configuration. Nói cách khác, nếu nó không giúp Windows XP của bạn hoạt động bình thường, tức là bản sao này cũng đã bị lỗi.


    Cách 3: Sử dụng System Restore


    Một công cụ có thể hữu ích khi Windows XP không khởi động được là 
    System Restore. System Restore chạy như một dịch vụ liên tục giám sát các thành phần hệ thống quan trọng khi có sự thay đổi. Khi phát hiện một thay đổi sắp xảy ra, System Restore lập tức tạo ngay các bản sao lưu, được gọi là điểm khôi phục, của các thành phần then chốt trước khi thay đổi xảy ra. Ngoài ra, System Restore còn được cấu hình mặc định để tạo điểm khôi phục mỗi 24 giờ.

    Để sử dụng System Restore đầu tiên khởi động lại máy tính bằng cách nhấn [Ctrl] [Alt] [Delete]. Khi bạn nhìn thấy thông báo lựa chọn hệ điều hành để bắt đầu hoặc nghe tiếng bíp duy nhất, bấm[F8] để hiển thị menu Windows Advanced Options. Bây giờ, chọn mục Safe Mode từ menu và nhấn [Enter].


    Một khi Windows XP khởi động vào chế độ Safe mode, kích vào nút 

    Start> All Programs > Accessories > System Tools menu, và chọn System Restore.

    Bởi vì bạn đang chạy trong Safe mode, lựa chọn duy nhất trên màn hình mở của System Restore là
     Restore My Computer To An Earlier Time, được chọn theo mặc định, do đó, chỉ cần nhấp vào Next. Sau đó, hãy làm theo cùng với các bước hướng dẫn để chọn điểm khôi phục và bắt đầu quá trình khôi phục.

    Chi tiết về System Restore, bạn có thể tham khảo bài viết sau:

    Code:
    http://softvnn.com/forum/showthread.php?t=241384
    Cách 4: Sử dụng Recovery Console


    Khi Windows XP gặp vấn đề nghiêm trọng, bạn sẽ cần phải sử dụng một phương pháp mạnh hơn. Các đĩa cài đặt Windows XP có khả năng cung cấp cho bạn một công cụ gọi là 
    Recovery Console.

    Để khởi động, hãy đưa đĩa vào ổ đĩa CD-ROM và nhấn [Ctrl] [Alt] [Delete] để khởi động lại máy tính. Một khi hệ thống bắt đầu khởi động từ đĩa CD, nó sẽ giúp bạn tải và chép đè các file cần thiết, thay thế cho những file cũ đã hỏng gây ra lỗi. Khi bạn thấy màn hình
    Welcome To Setup, bấm R để bắt đầu Recovery Console.


    Sau đó bạn sẽ thấy một menu Recovery Console và nhắc nhở bạn chọn hệ điều hành bạn muốn đăng nhập vào. Chỉ cần nhấn số trên bàn phím menu, và bạn sẽ được nhắc nhở để nhập mật khẩu của Administrator. Sau đó bạn sẽ thấy mình ở chính Recovery Console.


    Cách 5: Fix a corrupt Boot.ini

    Khi hệ điều hành Windows XP bắt đầu tải, chương trình Ntldr sẽ đề cập đến file 
    Boot.ini để xác định nơi các tập tin hệ điều hành cư trú và những tùy chọn để cho phép như hệ điều hành tiếp tục tải. Vì vậy, nếu có vấn đề bắt nguồn từ các tập tin Boot.ini, nó có thể làm cho Windows XP không thể khởi động.

    Nếu bạn nghi ngờ rằng Windows XP không khởi động được do file 
    Boot.ini bị lỗi, bạn có thể sử dụng Recovery Console đặc biệt của công cụ Bootcfg để sửa nó. Tất nhiên, bạn phải khởi động hệ thống với đĩa cài Windows XP và truy cập vào phần Recovery Console như trong mục 4.

    Để sử dụng công cụ 
    Bootcfg từ dấu nhắc lệnh của Recovery Console, gõ

    Bootcfg / tham số


    Trường hợp / tham số là một trong những tham số này yêu cầu:


    /Add - Quét toàn bộ các file cài đặt Windows và cho phép bạn thêm bất kỳ cái gì vào tập tin Boot.ini.
    /Scan - Quét toàn bộ các file cài đặt Windows.
    /List - Danh sách mỗi mục trong file Boot.ini.
    /Default - Thiết lập thông số mặc định để khởi động
    /Rebuild - Tạo lại tập tin Boot.ini. Người dùng phải xác nhận từng bước.

    Cách 6: Fix a corrupt partition boot sector

    Nếu bạn nghi ngờ Windows XP không khởi động được vì khu vực đã được phân vùng khởi động bị hỏng, bạn có thể sử dụng Recovery Console với công cụ 
    Fixboot để sửa nó. Bắt đầu bằng cách khởi động hệ thống với đĩa cài Windows XP và vào phần Recovery Console như trong mục 4.

    Để sử dụng công cụ 
    Fixboot, từ dấu nhắc của Recovery Console dấu nhắc, gõ

    Fixboot [ổ đĩa]


    [ổ đĩa] là ký tự của phân vùng mà bạn muốn viết lại file khởi động mới cho phân vùng đó.


    Cách 7: Sửa chữa Master boot record bị lỗi


    Master boot record (MBR) chiếm khu vực đầu tiên trên ổ cứng và chịu trách nhiệm nạp trong quá trình khởi động Windows. MBR chứa một bảng các phân vùng của ổ đĩa cũng như một chương trình nhỏ được gọi là Master boot code, chịu trách nhiệm về định vị các hoạt động, hoặc khả năng khởi động, phân vùng, trong bảng phân vùng. Một khi điều này xảy ra, khu vực khởi động phân vùng sẽ tiếp nhận và bắt đầu tải Windows. Nếu Master boot code bị hỏng, khu vực khởi động phân vùng không thể làm công việc của nó và Windows sẽ không khởi động.

    Khi đó bạn có thể sử dụng công cụ 
    Fixmbr trong Recovery Console để sửa nó. Trước tiên, khởi động hệ thống với đĩa cài Windows XP và truy cập vào phần Recovery Console như trong mục 4.

    Để sử dụng công cụ 
    Fixmbr, từ dòng lệnh Recovery Console dấu nhắc, gõ

    Fixmbr \Device\HardDisk0


    Cách 8: Cài lại Hệ điều hành


    Khi mà tất cả những cách trên không thể giúp hệ điều hành của bạn khởi động, cách tốt nhất đó là bạn nên cài một hệ điều hành mới cho máy tính của mình

    Theo BKAV


    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Tuấn Hải @ 23:04 20/03/2012
    Số lượt xem: 645
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến