ĐỀ THI HSG NGỮ VĂN 9 TỈNH BÌNH ĐỊNH 2024-2025

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Phan Tuấn Hải (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:53' 10-03-2025
Dung lượng: 386.4 KB
Số lượt tải: 102
Nguồn: ST
Người gửi: Phan Tuấn Hải (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:53' 10-03-2025
Dung lượng: 386.4 KB
Số lượt tải: 102
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÌNH ĐỊNH
KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2024 - 2025
(Đề minh họa có 02 trang)
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)
Đọc văn bản sau và thực hiện theo yêu cầu:
HOA ĐÀO NỞ TRÊN VAI
Ông Vại dừng tay, đứng lùi ra giữa sân ngắm nghía lại bức tường mình vừa tự tay quét lên một
lớp sơn xanh. Cô con dâu bê bó củi đi qua cười bảo:
- Ghê thật. Tay nghề bố như thợ sơn chuyên nghiệp.
- Chuyện! Dù gì xây bao nhiêu cái nhà cũng chẳng mất một đồng thuê thợ, chứ đùa à.
- Thế mà anh Vượng chẳng biết làm cái gì.
- Ờ, nhiều khi bố nghĩ chắc là nó con ai không phải con mình.
Ông cười khà khà, đưa mắt ngó thằng Lụm đang ngồi ở góc sân mân mê món đồ chơi còn bám
đầy bùn đất. Kể từ mùa lụt đến giờ thằng nhỏ vẫn buồn bã, lầm lì như thế. Tội nghiệp! Có đứa trẻ nào
mất ba mất mẹ mà vui. Dẫu cho cả thế giới có yêu thương ôm ấp nó vào lòng cũng không thể bằng tình
thân máu mủ. Vậy là Lụm trở thành con cháu nhà này cũng đã được hơn ba tháng. Ông vẫn nhớ như in
buổi sáng hôm ấy. Lúc trở về từ nơi tránh lũ ông thất thần nhìn nhà cửa tan hoang. Lúc đang bới trong
đống đổ nát tìm nồi niêu, xoong chảo ông giật mình nhìn thấy trên bụi tre bị bão quật nằm rạp xuống
bám đầy bùn đất sau cơn lũ có hình hài một con người. Nói đúng hơn đó là một đứa trẻ, quần áo nhuốm
màu bùn, tay cố ôm lấy thân cây. Xứ này đâu lạ gì cảnh sau mỗi trận bão lũ lại thấy đồ đạc nhà mình
trôi đi, đồ đạc nhà người ta trôi đến. Khi thì xoong nồi, khi thì cây cối, gà, vịt, khi thì quần áo, búp bê,
cặp sách. Nói chung đủ cả, lẫn lộn trong bùn đất chẳng còn dùng được. Nhưng chưa bao giờ ông nghĩ
thứ trôi đến sau cơn lũ lại là một thằng bé sáu tuổi, người ngợm đặc như một khối bùn.
Sau lũ, nguồn nước cũng ô nhiễm nặng. Những gáo nước đục ngầu không thể gột rửa hết bùn
đất trên cơ thể đứa bé tội nghiệp. Ngay cả sau này cũng vậy, dù ông Vại và vợ chồng đứa con trai có
yêu thương ra sao cũng không thể nào xóa đi ký ức đau buồn trong nó. Ông từng dắt thằng nhỏ ngược
dòng cơn lũ tìm về nhà. Nhưng về đến nơi chỉ thấy cảnh tượng tan hoang. Người ta nói người thân thằng
nhỏ đã trôi theo cơn lũ, không về. Kể từ đó thằng nhỏ trở thành con cháu trong nhà. Người làng nói
chắc ông trời thương vợ chồng chị Thảo lấy nhau chục năm vẫn chưa có con nên cơn lũ đã đưa thằng
nhỏ dừng lại nơi này. Từ khi có nó nhà cửa tự nhiên cứ ấm dần lên. Dù sau lũ, dựng tạm cái lều, ba con
người co cụm lại bên mâm cơm đạm bạc và giấc ngủ tứ bề gió thổi. Chồng Thảo đi xuất khẩu lao động
đã được gần hai năm. Ở xa, quặn lòng thương quê nhà mưa lũ. Nên Vĩnh nói số tiền anh tiết kiệm được
sẽ gửi về xây một căn nhà tử tế, nền cao, móng chắc để những mùa bão sau bớt đi phần thấp thỏm, âu
lo. “Hơn nữa, không thể để cho thằng nhỏ sống tạm bợ thế được. Sẽ chỉ càng khiến nó nghĩ về mất mát”.
Thế là một ngôi nhà nhỏ được xây lên. Thỉnh thoảng ông Vại ới thằng nhỏ xách hộ cái xô, giữ giùm cái
thang, trông giùm mấy mẻ cá đang phơi ngoài sân sợ con mèo ăn mất. Sợ nó ngồi không hay nghĩ ngợi
vẩn vơ, lúc giải lao ông thường đạp xe đèo nó đi chơi làng trên xóm dưới. Mấy đứa nhỏ hàng xóm chạy
sang kéo thằng Lụm chạy mất tiêu sau rặng cúc tần. Trời tối nhá nhem thằng Lụm trở về với bộ dạng
lấm lem, miệng cười hở hàm răng sún chưa thay hết. Thảo vờ mắng nó vài câu chứ bụng dạ thì mừng
vui quá chừng. Ít ra cũng thấy Lụm bắt đầu cười trở lại. Nửa đêm cũng ít dần những cơn ác mộng khiến
thằng nhỏ bật dậy mếu máo gọi “mẹ ơi”. Nó cũng thôi bám chặt vào cột nhà mỗi khi thấy ngoài trời nổi
gió.
[…] Thằng nhỏ sững người, ngơ ngác nhìn xung quanh. Nó vẫn chưa thôi thảng thốt mỗi khi
nghe ai đó nhắc về mẹ của mình. Người mẹ đã trôi theo cơn lũ không để lại một dấu vết gì. Lụm cũng
không quen gọi một người phụ nữ khác là mẹ. Dẫu cô Thảo cũng hiền hậu và dịu dàng giống y mẹ vậy.
Cô Thảo nấu những món mà Lụm thích. Lúc lôi Lụm đi tắm rửa cũng hay kì cọ chiếc bớt đỏ ở bả vai,
lần nào cũng thốt lên “hệt một bông hoa đào. Thật đẹp”. Tối đến cô Thảo cũng ôm Lụm ngủ, thủ thỉ kể
những câu chuyện cổ tích mà ngày xưa mẹ cũng từng hay kể. Mỗi lần nhìn cô Thảo lúi húi nhặt củi, nấu
cơm, cọ nồi niêu xoong chảo ngoài thềm giếng là tim Lụm nhói lên. Đến cả chiếc áo lao động đã sờn
vai sao cũng giống mẹ quá chừng. Bởi vậy từng có lúc Lụm tránh mặt đi đâu đó cả ngày để cơn nhớ mẹ
không trỗi dậy. Người làng thỉnh thoảng gặp Lụm hay bảo: “Đừng gọi cô mãi thế. Gọi là mẹ Thảo dần
đi cho quen”. Những lúc ấy cô Thảo thường kéo Lụm vào lòng cười bảo: “Kệ thằng nhỏ thích gọi gì thì
gọi, miễn nó thấy thoải mái trong lòng”. Lúc chỉ có hai người với nhau, nghe gió thổi ràn rạt bên tai,
cô Thảo bảo: “Sẽ chẳng ai trên đời có thể thay thế được mẹ của con”. Lụm gục đầu vào lòng cô, hực
lên một tiếng rồi nức nở. Đấy là lần đầu tiên kể từ mùa lũ ấy, Thảo thấy thằng nhỏ khóc. Bao nhiêu buồn
đau, mất mát từng thắt nghẹn trong lòng giờ mới khóc một trận đã đời. Nước mắt càng rơi lòng Lụm
càng nhẹ nhõm.
Mùa xuân đến nhanh tự lúc nào không rõ. Đêm qua trước lúc đi ngủ còn thấy trời lùa xuống
một cơn gió lạnh. Bầy vịt ngủ lang kêu càm cạp chen lấn ủ ấm lẫn nhau ngoài bờ ao. Tiếng ông Vại nói
từ phòng bên vọng sang: “Kéo chăn đắp cho thằng nhỏ kẻo ho đấy con ơi”. Ấy vậy mà sáng nay thằng
Lụm thức dậy lấy tay dụi mắt ngỡ ngàng thấy mùa xuân về đâu đó trong thứ nắng non sóng sánh như
mật ong…
[…] Cảnh tát cá đồng mới đông vui làm sao. Bà con ai cũng ghé chọn vài con cá to mua về để ăn
Tết. Cá đồng ăn cỏ, nước sạch chảy lưu thông nên thơm thịt ai cũng thích. Lụm bận bịu với chiếc giỏ
đựng đầy tôm tép của mình. Cô Thảo nói Lụm bán được bao nhiêu tiền đều được giữ lại để đi chợ Tết.
Thằng nhỏ sướng rơn lội cả ngày dưới đồng, bùn bết từ đỉnh đầu xuống chân, chỉ hàm răng trắng thỉnh
thoảng thích chí cười khanh khách. Tối về cô Thảo đun sẵn nồi nước lá, lôi Lụm ra kì cọ. Tay Thảo dừng
lại bên chiếc bớt đỏ trên vai thằng nhỏ, khẽ cười bảo:
- Con nhìn xem, hoa đào ngoài vườn chưa kịp nở mà hoa đào trên vai con đã nở hoa rồi.
- Hồi trước mẹ con hay nói ai có chiếc bớt đỏ như hoa sau này nhất định sẽ hạnh phúc. Có thật
vậy không cô?
- Đúng thế. Cô cũng tin sau này Lụm nhất định sẽ trở thành một chàng trai tươi vui, hạnh phúc.
Bởi con mang cả mùa xuân đang nở thắm trên vai.
Lụm nhắm mắt, ngửa cổ cảm nhận sự ấm áp của từng gáo nước lá dội xuống người mình và
những cánh hoa đào chầm chậm nở trên vai...
(Theo Vũ Thị Huyền Trang, baoquangngai.vn, 26/12/2022)
* Chú thích: Tác giả Vũ Thị Huyền Trang sinh năm 1987, tốt nghiệp Khoa Viết văn và Báo chí, Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của Huyền Trang gắn liền với thiếu nhi,
giọng văn trong sáng, nhẹ nhàng, bay bổng. Sở trường của Huyền Trang là viết về miền núi, đồng quê, viết
về những con người nghèo khổ, cô đơn, bất hạnh. Với năng khiếu văn chương, sức viết dồi dào, từ năm 2010
đến nay, Huyền Trang đã xuất bản gần 20 ấn phẩm và đã được tặng hơn 20 giải thưởng văn học từ Trung
ương đến địa phương.
Câu 1: (8,0 điểm)
Từ câu nói “Con nhìn xem, hoa đào ngoài vườn chưa kịp nở mà hoa đào trên vai con đã nở hoa
rồi.” của nhân vật Thảo trong truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai”, viết một bài văn nghị luận trình bày
suy nghĩ của em về: tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2: (12,0 điểm)
Đại văn hào An-đéc-xen có câu nói nổi tiếng: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng
câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Kết nối với phần đọc hiểu
câu chuyện “Hoa đào nở trên vai” làm sáng tỏ nhận định trên.
----------- HẾT ------------
BÌNH ĐỊNH
KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2024 - 2025
(Đề minh họa có 02 trang)
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)
Đọc văn bản sau và thực hiện theo yêu cầu:
HOA ĐÀO NỞ TRÊN VAI
Ông Vại dừng tay, đứng lùi ra giữa sân ngắm nghía lại bức tường mình vừa tự tay quét lên một
lớp sơn xanh. Cô con dâu bê bó củi đi qua cười bảo:
- Ghê thật. Tay nghề bố như thợ sơn chuyên nghiệp.
- Chuyện! Dù gì xây bao nhiêu cái nhà cũng chẳng mất một đồng thuê thợ, chứ đùa à.
- Thế mà anh Vượng chẳng biết làm cái gì.
- Ờ, nhiều khi bố nghĩ chắc là nó con ai không phải con mình.
Ông cười khà khà, đưa mắt ngó thằng Lụm đang ngồi ở góc sân mân mê món đồ chơi còn bám
đầy bùn đất. Kể từ mùa lụt đến giờ thằng nhỏ vẫn buồn bã, lầm lì như thế. Tội nghiệp! Có đứa trẻ nào
mất ba mất mẹ mà vui. Dẫu cho cả thế giới có yêu thương ôm ấp nó vào lòng cũng không thể bằng tình
thân máu mủ. Vậy là Lụm trở thành con cháu nhà này cũng đã được hơn ba tháng. Ông vẫn nhớ như in
buổi sáng hôm ấy. Lúc trở về từ nơi tránh lũ ông thất thần nhìn nhà cửa tan hoang. Lúc đang bới trong
đống đổ nát tìm nồi niêu, xoong chảo ông giật mình nhìn thấy trên bụi tre bị bão quật nằm rạp xuống
bám đầy bùn đất sau cơn lũ có hình hài một con người. Nói đúng hơn đó là một đứa trẻ, quần áo nhuốm
màu bùn, tay cố ôm lấy thân cây. Xứ này đâu lạ gì cảnh sau mỗi trận bão lũ lại thấy đồ đạc nhà mình
trôi đi, đồ đạc nhà người ta trôi đến. Khi thì xoong nồi, khi thì cây cối, gà, vịt, khi thì quần áo, búp bê,
cặp sách. Nói chung đủ cả, lẫn lộn trong bùn đất chẳng còn dùng được. Nhưng chưa bao giờ ông nghĩ
thứ trôi đến sau cơn lũ lại là một thằng bé sáu tuổi, người ngợm đặc như một khối bùn.
Sau lũ, nguồn nước cũng ô nhiễm nặng. Những gáo nước đục ngầu không thể gột rửa hết bùn
đất trên cơ thể đứa bé tội nghiệp. Ngay cả sau này cũng vậy, dù ông Vại và vợ chồng đứa con trai có
yêu thương ra sao cũng không thể nào xóa đi ký ức đau buồn trong nó. Ông từng dắt thằng nhỏ ngược
dòng cơn lũ tìm về nhà. Nhưng về đến nơi chỉ thấy cảnh tượng tan hoang. Người ta nói người thân thằng
nhỏ đã trôi theo cơn lũ, không về. Kể từ đó thằng nhỏ trở thành con cháu trong nhà. Người làng nói
chắc ông trời thương vợ chồng chị Thảo lấy nhau chục năm vẫn chưa có con nên cơn lũ đã đưa thằng
nhỏ dừng lại nơi này. Từ khi có nó nhà cửa tự nhiên cứ ấm dần lên. Dù sau lũ, dựng tạm cái lều, ba con
người co cụm lại bên mâm cơm đạm bạc và giấc ngủ tứ bề gió thổi. Chồng Thảo đi xuất khẩu lao động
đã được gần hai năm. Ở xa, quặn lòng thương quê nhà mưa lũ. Nên Vĩnh nói số tiền anh tiết kiệm được
sẽ gửi về xây một căn nhà tử tế, nền cao, móng chắc để những mùa bão sau bớt đi phần thấp thỏm, âu
lo. “Hơn nữa, không thể để cho thằng nhỏ sống tạm bợ thế được. Sẽ chỉ càng khiến nó nghĩ về mất mát”.
Thế là một ngôi nhà nhỏ được xây lên. Thỉnh thoảng ông Vại ới thằng nhỏ xách hộ cái xô, giữ giùm cái
thang, trông giùm mấy mẻ cá đang phơi ngoài sân sợ con mèo ăn mất. Sợ nó ngồi không hay nghĩ ngợi
vẩn vơ, lúc giải lao ông thường đạp xe đèo nó đi chơi làng trên xóm dưới. Mấy đứa nhỏ hàng xóm chạy
sang kéo thằng Lụm chạy mất tiêu sau rặng cúc tần. Trời tối nhá nhem thằng Lụm trở về với bộ dạng
lấm lem, miệng cười hở hàm răng sún chưa thay hết. Thảo vờ mắng nó vài câu chứ bụng dạ thì mừng
vui quá chừng. Ít ra cũng thấy Lụm bắt đầu cười trở lại. Nửa đêm cũng ít dần những cơn ác mộng khiến
thằng nhỏ bật dậy mếu máo gọi “mẹ ơi”. Nó cũng thôi bám chặt vào cột nhà mỗi khi thấy ngoài trời nổi
gió.
[…] Thằng nhỏ sững người, ngơ ngác nhìn xung quanh. Nó vẫn chưa thôi thảng thốt mỗi khi
nghe ai đó nhắc về mẹ của mình. Người mẹ đã trôi theo cơn lũ không để lại một dấu vết gì. Lụm cũng
không quen gọi một người phụ nữ khác là mẹ. Dẫu cô Thảo cũng hiền hậu và dịu dàng giống y mẹ vậy.
Cô Thảo nấu những món mà Lụm thích. Lúc lôi Lụm đi tắm rửa cũng hay kì cọ chiếc bớt đỏ ở bả vai,
lần nào cũng thốt lên “hệt một bông hoa đào. Thật đẹp”. Tối đến cô Thảo cũng ôm Lụm ngủ, thủ thỉ kể
những câu chuyện cổ tích mà ngày xưa mẹ cũng từng hay kể. Mỗi lần nhìn cô Thảo lúi húi nhặt củi, nấu
cơm, cọ nồi niêu xoong chảo ngoài thềm giếng là tim Lụm nhói lên. Đến cả chiếc áo lao động đã sờn
vai sao cũng giống mẹ quá chừng. Bởi vậy từng có lúc Lụm tránh mặt đi đâu đó cả ngày để cơn nhớ mẹ
không trỗi dậy. Người làng thỉnh thoảng gặp Lụm hay bảo: “Đừng gọi cô mãi thế. Gọi là mẹ Thảo dần
đi cho quen”. Những lúc ấy cô Thảo thường kéo Lụm vào lòng cười bảo: “Kệ thằng nhỏ thích gọi gì thì
gọi, miễn nó thấy thoải mái trong lòng”. Lúc chỉ có hai người với nhau, nghe gió thổi ràn rạt bên tai,
cô Thảo bảo: “Sẽ chẳng ai trên đời có thể thay thế được mẹ của con”. Lụm gục đầu vào lòng cô, hực
lên một tiếng rồi nức nở. Đấy là lần đầu tiên kể từ mùa lũ ấy, Thảo thấy thằng nhỏ khóc. Bao nhiêu buồn
đau, mất mát từng thắt nghẹn trong lòng giờ mới khóc một trận đã đời. Nước mắt càng rơi lòng Lụm
càng nhẹ nhõm.
Mùa xuân đến nhanh tự lúc nào không rõ. Đêm qua trước lúc đi ngủ còn thấy trời lùa xuống
một cơn gió lạnh. Bầy vịt ngủ lang kêu càm cạp chen lấn ủ ấm lẫn nhau ngoài bờ ao. Tiếng ông Vại nói
từ phòng bên vọng sang: “Kéo chăn đắp cho thằng nhỏ kẻo ho đấy con ơi”. Ấy vậy mà sáng nay thằng
Lụm thức dậy lấy tay dụi mắt ngỡ ngàng thấy mùa xuân về đâu đó trong thứ nắng non sóng sánh như
mật ong…
[…] Cảnh tát cá đồng mới đông vui làm sao. Bà con ai cũng ghé chọn vài con cá to mua về để ăn
Tết. Cá đồng ăn cỏ, nước sạch chảy lưu thông nên thơm thịt ai cũng thích. Lụm bận bịu với chiếc giỏ
đựng đầy tôm tép của mình. Cô Thảo nói Lụm bán được bao nhiêu tiền đều được giữ lại để đi chợ Tết.
Thằng nhỏ sướng rơn lội cả ngày dưới đồng, bùn bết từ đỉnh đầu xuống chân, chỉ hàm răng trắng thỉnh
thoảng thích chí cười khanh khách. Tối về cô Thảo đun sẵn nồi nước lá, lôi Lụm ra kì cọ. Tay Thảo dừng
lại bên chiếc bớt đỏ trên vai thằng nhỏ, khẽ cười bảo:
- Con nhìn xem, hoa đào ngoài vườn chưa kịp nở mà hoa đào trên vai con đã nở hoa rồi.
- Hồi trước mẹ con hay nói ai có chiếc bớt đỏ như hoa sau này nhất định sẽ hạnh phúc. Có thật
vậy không cô?
- Đúng thế. Cô cũng tin sau này Lụm nhất định sẽ trở thành một chàng trai tươi vui, hạnh phúc.
Bởi con mang cả mùa xuân đang nở thắm trên vai.
Lụm nhắm mắt, ngửa cổ cảm nhận sự ấm áp của từng gáo nước lá dội xuống người mình và
những cánh hoa đào chầm chậm nở trên vai...
(Theo Vũ Thị Huyền Trang, baoquangngai.vn, 26/12/2022)
* Chú thích: Tác giả Vũ Thị Huyền Trang sinh năm 1987, tốt nghiệp Khoa Viết văn và Báo chí, Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của Huyền Trang gắn liền với thiếu nhi,
giọng văn trong sáng, nhẹ nhàng, bay bổng. Sở trường của Huyền Trang là viết về miền núi, đồng quê, viết
về những con người nghèo khổ, cô đơn, bất hạnh. Với năng khiếu văn chương, sức viết dồi dào, từ năm 2010
đến nay, Huyền Trang đã xuất bản gần 20 ấn phẩm và đã được tặng hơn 20 giải thưởng văn học từ Trung
ương đến địa phương.
Câu 1: (8,0 điểm)
Từ câu nói “Con nhìn xem, hoa đào ngoài vườn chưa kịp nở mà hoa đào trên vai con đã nở hoa
rồi.” của nhân vật Thảo trong truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai”, viết một bài văn nghị luận trình bày
suy nghĩ của em về: tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2: (12,0 điểm)
Đại văn hào An-đéc-xen có câu nói nổi tiếng: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng
câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Kết nối với phần đọc hiểu
câu chuyện “Hoa đào nở trên vai” làm sáng tỏ nhận định trên.
----------- HẾT ------------
 















Các ý kiến mới nhất